Hoàn thiện hành lang pháp lý về thuế đối với cá nhân kinh doanh thương mại điện tử

Thứ hai - 18/07/2022 05:18
Quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử (TMĐT) nói chung và với cá nhân kinh doanh TMĐT nói riêng là một lĩnh vực đặc thù, rất khác biệt so với hoạt động kinh doanh thương mại truyền thống. TMĐT ở Việt Nam bắt đầu hình thành cách nay khoảng một thập niên và phát triển bùng nổ trong vài năm gần đây. Do tính chất mới mẻ, khác biệt và biến đổi mạnh mẽ gắn với những thành tựu mới của công nghệ thông tin, nên hành lang pháp lý để quản lý thuế đối với lĩnh vực này thời gian qua tuy đã đặt được nền móng quan trọng, song vẫn có những khía cạnh cần tiếp tục hoàn thiện, để tạo cơ sở chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh TMĐT.
Hoàn thiện hành lang pháp lý về thuế đối với cá nhân kinh doanh thương mại điện tử
Hoàn thiện hành lang pháp lý về thuế đối với cá nhân kinh doanh thương mại điện tử

Quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh TMĐT -  những ghi nhận bước đầu

Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 (Luật), có hiệu lực thi hành từ 1/7/2020, đã tạo nền tảng pháp lý cơ bản để quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh TMĐT nói chung và hoạt động kinh doanh TMĐT của cá nhân nói riêng. Theo đó, Luật đã bổ sung quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có liên quan trong quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh TMĐT. Trong đó, Bộ Công thương có trách nhiệm hướng dẫn và trực tiếp chỉ đạo các cơ quan chức năng trong việc kết nối, cung cấp thông tin liên quan để phối hợp với Bộ Tài chính trong quản lý thuế đối với các tổ chức, cá nhân có hoạt động TMĐT. Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan chức năng trong việc kết nối, cung cấp thị trường liên quan với cơ quan quản lý thuế đối với tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến việc cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet, thông tin mạng, trò chơi điện tử trên mạng. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm xây dựng và phát triển hệ thống thanh toán TMĐT quốc gia, các tiện ích tích hợp thanh toán điện tử để sử dụng rộng rãi cho các mô hình TMĐT, giám sát các giao dịch thanh toán hỗ trợ công tác quản lý thuế đối với hoạt động cung cấp dịch vụ xuyên biên giới trong TMĐT.

Luật cũng bổ sung quy định về nguyên tắc kê khai, nộp thuế đối với hoạt động kinh doanh TMĐT, kinh doanh dựa trên nền tảng số và các dịch vụ khác được thực hiện bởi nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam. Theo đó, nhà cung cấp nước ngoài có nghĩa vụ trực tiếp hoặc ủy quyền thực hiện đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế tại Việt Nam theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Trên cơ sở các quy định của Luật, Nghị định số 126/2020/NĐ-CP đã quy định chi tiết một số nội dung cụ thể có liên quan đến quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh TMĐT của cá nhân. Theo đó, trong trường hợp tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân (trong mọi lĩnh vực bao gồm cả TMĐT) thì cá nhân không trực tiếp khai thuế., mà tổ chức có trách nhiệm khai thuế GTGT đối với toàn bộ doanh thu của hoạt động hợp tác kinh doanh theo quy định của pháp luật về thuế và quản lý thuế của tổ chức, không phân biệt hình thức phân chia kết quả hợp tác kinh doanh, đồng thời khai thay và nộp thay thuế TNCN cho cá nhân hợp tác kinh doanh. Trường hợp tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân là hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh theo quy định tại Khoản 5 Điều 51 của Luật, mà cá nhân có ngành nghề đang hoạt động cùng với ngành nghề hợp tác kinh doanh với tổ chức, thì tổ chức và cá nhân tự thực hiện khai thuế tương ứng với kết quả thực tế hợp tác kinh doanh theo quy định. Nghị định số 126/2020/NĐ-CP cũng quy định trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế thay nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh TMĐT, kinh doanh dựa trên nền tảng số đối với ngân hàng thương mại, tổ chức trung gian thanh toán.

Tiếp đó, Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 1/6/2021 của Bộ Tài chính sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 100/2021/TT-BTC đã hướng dẫn chi tiết một số nội dung quan trọng liên quan đến quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh TMĐT. Theo đó, tổ chức bao gồm cả chủ sở hữu sàn giao dịch TMĐT thực hiện việc khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân trên cơ sở ủy quyền theo quy định của pháp luật dân sự. Trong trường hợp tổ chức là chủ sở hữu sàn giao dịch TMĐT không thực hiện khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân kinh doanh thông qua sàn trên cơ sở ủy quyền theo quy định của pháp luật dân sự thì Cục Thuế phối hợp với sàn giao dịch TMĐT trong việc chia sẻ và cung cấp thông tin của cá nhân kinh doanh thông qua sàn theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế để quản lý thuế theo quy định của pháp luật.

Gần đây nhất, Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính đã dành một chương (Chương IX với 9 điều) quy định về nghĩa vụ đăng ký, kê khai, nộp thuế và các thủ tục, hồ sơ mẫu biểu, cách thức cụ thể để nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú ở Việt Nam có hoạt động kinh doanh TMĐT, kinh doanh dựa trên nền tảng số thực hiện đăng ký, kê khai, tính thuế, nộp thuế tại Việt Nam.

Từ hành lang pháp lý quan trọng đó, cơ quan thuế các cấp đã tổ chức thực hiện khá hiệu quả công tác quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh TMĐT nói chung và hoạt động kinh doanh TMĐT của cá nhân nói riêng. Cụ thể là, số thuế truy thu, tiền phạt qua thanh tra kiểm tra đối với cá nhân cư trú tại Việt Nam cung cấp dịch vụ xuyên biên giới tại các trang mạng xã hội nước ngoài Google, Facebook, Youtube, ... trên cả nước tính  từ 2018 đến hết tháng 5/2022 là 782 tỷ đồng. Trong đó, tại Cục Thuế Hà Nội qua công tác thanh tra, kiểm tra đã phát hiện cá nhân sản xuất phần mềm và có nguồn thu từ quảng cáo trong năm 2020 là 330 tỷ đồng (số thuế phải nộp 23,4 tỷ đồng) và một cá nhân khác cũng có thu nhập 260 tỷ đồng (số thuế phải nộp là 18 tỷ đồng). Cục Thuế TP HCM phát hiện một cá nhân kênh YouTube có thu nhập lên 19 tỷ đồng từ năm 2016 - 2018; một trường hợp khác nhận thu nhập 41 tỷ đồng từ Google, Facebook, YouTube chỉ trong 2 năm 2016 và 2017. Qua công tác thanh kiểm tra, Cục Thuế TP HCM cũng phát hiện một cá nhân ở tỉnh Quảng Nam thu nhập 17 tỷ đồng và đã phối hợp để truy thu số thuế theo quy định.
 

Những khoảng trống pháp lý cần được lấp đầy

Mặc dù đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, song trên thực tế nguồn thu từ hoạt động kinh doanh TMĐT của cá nhân bán hàng qua các sàn giao dịch TMĐT và bán hàng thông qua các mạng xã hội như Zalo, Facebook, Instagram, Tweeter... chưa phải đã bao quát hết. Bên cạnh nguyên nhân khách quan là chưa trang bị được hệ thống công nghệ phù hợp và hiện đại để nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra thì khoảng trống pháp lý về quản lý thuế đối với đối tượng này cũng là một nguyên nhân quan trọng. Các khoảng trống đó có thể nhận dạng bao gồm:

Thứ nhất, ngoài trường hợp tổ chức hợp tác với cá nhân đã thiết lập được cơ chế pháp lý phù hợp để quản lý thuế thì quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động kinh doanh TMĐT của cá nhân bán hàng thông qua sàn giao dịch TMĐT chưa quán triệt đầy đủ nguyên tắc “khấu trừ tại nguồn” trong bối cảnh mới của hoạt động TMĐT. Theo Thông tư số 100/2021/TT-BTC, bên cạnh trách nhiệm cung cấp thông tin, sàn giao dịch TMĐT có trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân trên cơ sở ủy quyền theo quy định của pháp luật dân sự. Với quy định như vậy, nếu cá nhân không tự nguyện ủy quyền thì sàn giao dịch TMĐT không bắt buộc phải kê khai, nộp thuế thay cho cá nhân. Trên thực tế, để thu hút cá nhân giao dịch trên sàn giao dịch TMĐT và giảm bớt khối lượng công việc, trong trường hợp không bị bắt buộc, các sàn giao dịch TMĐT thường không khuyến khích cá nhân ủy quyền kê khai, nộp thuế thay. Đồng nghĩa, quy định mới chỉ ràng buộc trách nhiệm cung cấp thông tin của sàn giao dịch TMĐT mà chưa có ràng buộc trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế thay trong những điều kiện thực tiễn phù hợp để thực hiện nghĩa vụ này.

Thứ hai, chưa quy định cụ thể trong văn bản quy phạm pháp luật về loại thông tin cung cấp, cách thức và thời hạn cung cấp thông tin của cá nhân trong trường hợp sàn giao dịch TMĐT không kê khai, nộp thuế thay cho cá nhân. (Thông tư 100/2021/TT-BTC giao quyền hướng dẫn các nội dung này bằng văn bản hành chính của Tổng cục Thuế).

Thứ ba, chưa có quy định pháp lý ràng buộc trách nhiệm của các mạng xã hội trong việc cung cấp thông tin về các hoạt động quảng cáo nhằm mục đích kinh doanh của cá nhân trên các mạng xã hội

 

Giải pháp hoàn thiện hành lang pháp lý để quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh TMĐT

Những khoảng trống pháp lý đã phân tích trên cần được lấp đầy bằng cách bổ sung các quy định. Theo hướng này, Bộ Tài chính đang nghiên cứu trình Chính phủ Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý thuế với các nội dung cụ thể như sau:

Một là, bổ sung những trường hợp mà sàn giao dịch TMĐT phải có trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế thay cho cá nhân. Theo đó, đối với những trường hợp sau đây, thiết nghĩ sàn giao dịch TMĐT phải thực hiện kê khai, khấu trừ và nộp thuế thay cho cá nhân: (1) Sàn giao dịch TMĐT thực hiện dịch vụ trung gian thanh toán; (2) Sàn giao dịch TMĐT thỏa thuận với cá nhân về việc đặt hàng trực tuyến và sàn giao dịch TMĐT tham gia điều hành, kiểm soát hoạt động giao hàng và thanh toán của người mua cho cá nhân.

Ở trường hợp thứ nhất, sàn giao dịch TMĐT với tư cách là tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán phải thực hiện nghĩa vụ khấu trừ thuế. Trách nhiệm này tương tự như trách nhiệm của ngân hàng thương mại và các trung gian thanh toán khác và sàn hoàn toàn có điều kiện thực tiễn để thực hiện trách nhiệm này.

Ở trường hợp thứ hai, điều kiện thực tiễn cũng cho phép các sàn giao dịch TMĐT thực hiện trách nhiệm tham gia điều hành, kiểm soát hoạt động giao hàng và thanh toán của người mua cho cá nhân, do sàn giao dịch TMĐT kiểm soát được dòng tiền thanh toán từ người mua sang người bán. Theo khảo sát thực tế, đối với với các sàn giao dịch TMĐT (Shopee, Tiki, Hotdeal…), khách đặt hàng trực tuyến có thể lựa chọn phương thức thanh toán bằng tài khoản ngân hàng hoặc thanh toán tiền mặt. Trong trường hợp thanh toán bằng tài khoản ngân hàng, sau khi không có bất kỳ khiếu nại gì về sản phẩm, khách không trả lại hàng và thực hiện thanh toán thì sàn mới chuyển tiền hàng cho người bán. Trong trường hợp thanh toán bằng tiền mặt thì sau khi khách hàng chấp nhận hàng và thanh toán tiền mặt cho người vận chuyển (shipper) thì người vận chuyển nộp tiền cho sàn, sau đó sàn mới thanh toán cho người bán. Như vậy, nếu coi sàn giao dịch TMĐT là một cái chợ thì ban quản lý chợ này khác rất nhiều so với ban quản lý chợ truyền thống. Theo đó, bên cạnh việc cho thuê chỗ bán hàng và thu phí, chủ sở hữu chợ này còn cung nhiều dịch vụ khác liên quan đến quá trình mua bán hàng hóa. Bằng việc tham gia vào một số công đoạn quan trọng của quá trình mua bán như phân tích trên, chủ sở hữu sàn giao dịch TMĐT hoàn toàn có điều kiện thực tiễn để thực hiện khấu trừ thuế tại nguồn.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, quy định trách nhiệm khấu trừ thuế của chủ sở hữu sàn giao dịch TMĐT là mâu thuẫn với Luật Thuế TNCN, vì chỉ quy định tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập có nghĩa vụ khấu trừ thuế của cá nhân, trong khi đó, sàn giao dịch TMĐT không phải tổ chức chi trả thu nhập, nên không có nghĩa vụ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Hiểu như vậy là chưa đúng và chưa đầy đủ, bởi lẽ, việc kê khai, nộp thuế của các tổ chức, cá nhân, bên cạnh thực hiện theo quy định của các luật thuế còn phải thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Khoản 4 Điều 151 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 quy định “Căn cứ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan, Chính phủ quy định việc áp dụng quy định quản lý khoản thu về thuế của Luật này để quản lý thu đối với các khoản thu khác thuộc NSNN”. Như vậy, việc quy định trách nhiệm khấu trừ thuế đối với sàn giao dịch TMĐT là đúng thẩm quyền của Chính phủ, phù hợp với Luật Quản lý thuế và không mâu thuẫn với Luật Thuế TNCN. Cần lưu ý thêm là, tuy Nghị định 52/2013/NĐ-CP về TMĐT và Nghị định 85/2021/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung Nghị định 52/2013/NĐ-CP) không quy định trách nhiệm kê khai, nộp thuế thay của sàn TMĐT nhưng theo đúng với thẩm quyền của mình, Chính phủ có thể quy định bổ sung trách nhiệm này. Tham khảo kinh nghiệm các nước cho thấy, trước đòi hỏi của thực tiễn, trong thời gian gần đây, các quốc gia trên thế giới đã tiến hành sửa đổi pháp luật về quản lý thuế theo hướng bổ sung thêm trách nhiệm khấu trừ tại nguồn của sàn giao dịch TMĐT. Cho đến nay, đã có trên 40 nước quy định trách nhiệm của sàn giao dịch TMĐT trong việc khấu trừ thuế của cá nhân nếu sàn cung cấp dịch vụ thanh toán, hoặc trực tiếp tham gia vào các khâu giao nhận hàng hóa của người mua và người bán.

Hai là, bổ sung cụ thể vào nghị định quy định chi tiết Luật Quản lý thuế loại thông tin cung cấp, cách thức và thời hạn cung cấp thông tin của cá nhân trong trường hợp sàn giao dịch TMĐT không kê khai, nộp thuế thay cho cá nhân. Đồng thời, xác định rõ giới hạn trách nhiệm bảo mật thông tin của các tổ chức, cá nhân có liên quan để vừa đảm bảo chống thất thu thuế, vừa đảm bảo lợi ích hợp pháp của các cá nhân kinh doanh TMĐT.

Ba là, bổ sung vào quy định pháp luật về thông tin truyền thông về trách nhiệm của các mạng xã hội trong việc cung cấp thông tin về các hoạt động quảng cáo nhằm mục đích kinh doanh của cá nhân trên các mạng xã hội. Đây chính là cơ sở để cơ quan thuế và cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng công nghệ thông tin và các công nghệ hiện đại khác để thực hiện quản lý thuế theo quy định của pháp luật.       

Nguồn tin: thuenhanuoc.vn

 Từ khóa: Thuế TMĐT

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá yếu tố nào quan trọng nhất trong quá trình học tập?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập8
  • Hôm nay2,186
  • Tháng hiện tại47,721
  • Tổng lượt truy cập1,684,331
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây