Giải bài toán quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử và dịch vụ số xuyên biên giới

Thứ bảy - 20/08/2022 09:18
Là hệ quả tất yếu của tiến trình chuyển đổi số, ngay khi xuất hiện, các chính sách phục vụ công tác quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử (TMĐT) và dịch vụ số xuyên biên giới đã được kịp thời ban hành, đảm bảo động viên đầy đủ nguồn lực phát sinh từ lĩnh vực này cho NSNN. Tuy nhiên, đặc thù đa dạng và phức tạp của loại hình kinh doanh TMĐT đang đặt ra nhiều thách thức với cơ quan thuế. Nhằm giúp cơ quan quản lý nhận diện rõ hơn những thách thức của công tác thuế đối với hoạt động TMĐT và dịch vụ số xuyên biên giới, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế, Tạp chí Thuế đã thực hiện chuyên đề 3 kỳ riêng cho chủ đề này.
Giải bài toán quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử và dịch vụ số xuyên biên giới
Giải bài toán quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử và dịch vụ số xuyên biên giới

Bài 1: Quản lý thuế thương mại điện tử ngành thuế chủ động vào cuộc

Trước yêu cầu cấp thiết của công tác quản lý thuế đối với loại hình kinh doanh (TMĐT) và dịch vụ xuyên biên giới, cùng với các cơ chế chính sách nhanh chóng được ban hành, thì sự vào cuộc chủ động của cơ quan thuế các cấp bước đầu đã mang lại hiệu quả rõ rệt, góp phần tăng thu cho NSNN hàng nghìn tỷ đồng trong.
 

Cơ quan thuế chủ động vào cuộc

Trước thực trạng số lượng các chủ thể tham gia hoạt động TMĐT và dịch vụ số xuyên biên giới gia tăng nhanh chóng, Cục Thuế Hà Nội xác định, việc quản lý loại hình kinh doanh này là cần thiết. Theo đó, một trong những giải pháp quan trọng đầu tiên được Cục Thuế tập trung triển khai là đẩy mạnh tuyên truyền, hỗ trợ, khuyến khích người nộp thuế (NNT) đăng ký và tự giác thực hiện nghĩa vụ theo quy định. Bên cạnh đó, để quản lý thuế đối với TMĐT, cơ quan thuế đã triển khai giải pháp nhận diện mô hình hoạt động, dòng tiền của các hoạt động TMĐT. Đồng thời, xây dựng cơ sở dữ liệu cho từng đối tượng để phân loại quản lý. Đơn cử như năm 2017, với tiêu chí xác định đặc thù của hoạt động kinh doanh TMĐT dựa trên hạ tầng công nghệ, cơ quan thuế đã sử dụng công nghệ thông tin như một công cụ hữu hiệu để quản lý thuế. Theo đó, cùng với việc rà soát các chủ tài khoản Facebook trên địa bàn Hà Nội có hoạt động quảng cáo bán hàng qua mạng, cơ quan thuế đã gửi 3 lần tin nhắn trên hệ thống SMS đến các chủ tài khoản được xác định là chưa đăng ký thuế; hướng dẫn các tài khoản truy cập trang website của cơ quan thuế để tìm hiểu các thông tin liên quan đến việc hướng dẫn nghĩa vụ đăng ký, kê khai thuế; cách thức khai báo thông tin, qua đó hạn chế việc làm phiền nếu các cá nhân đã thực hiện đăng ký. Ngoài ra, Cục Thuế Hà Nội còn tổ chức bộ phận hỗ trợ, hướng dẫn, giải đáp các chính sách thuế. Riêng từ năm 2018 đến 2021, xác định việc nhận diện cách thức hoạt động, các chủ thể tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh TMĐT có vai trò tiền đề để thực hiện công tác quản lý thuế, Cục Thuế đã triển khai các nghiệp vụ phối hợp với ngân hàng thương mại kiểm soát dòng tiền của các trường hợp có phát sinh thu nhập từ Google, Facebook; phối hợp với các trung gian thanh toán, trung gian vận chuyển, trung gian quản lý các ứng dụng TMĐT để củng cố xác định vị trí của các cơ sở kinh doanh. Nhờ sự phối hợp này, Cục Thuế Hà Nội đã thu thập được khối lượng dữ liệu lớn của các chủ thể liên quan đến hoạt động TMĐT, từ đó có biện pháp cụ thể đối với từng nhóm đối tượng quản lý. Cùng lúc, Cục Thuế còn gửi giấy mời cho các trường hợp được xác minh thực tế để tham gia hội nghị tập huấn chính sách, đăng ký, kê khai thuế. Nhờ đó, Cục Thuế đã xây dựng cơ sở dữ liệu của 32.084 cơ sở kinh doanh có hoạt động bán hàng online, 2.307 cơ sở cho thuê nhà/lưu trú để đưa vào diện quản lý thuế. Số nộp ngân sách từ hoạt động TMĐT năm 2020 là 134 tỷ đồng và năm 2021 là 129,3 tỷ đồng.

Cũng như Hà Nội, vốn là địa phương có nền kinh tế năng động nhất cả nước, những năm qua, thực hiện chỉ đạo của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Cục Thuế TP HCM đã tăng cường công tác quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT, trong đó hướng tới đối tượng người nộp thuế là các cá nhân kinh doanh, hộ kinh doanh. Để quản lý thuế đối với loại hình này, Cục Thuế đã triển khai các chuyên đề tuyên truyền, vận động NNT đăng ký, kê khai, nộp thuế; rà soát thông tin từ các tổ chức có liên quan; thực hiện thanh tra, kiểm tra DN kinh doanh TMĐT, kinh doanh trực tuyến có trả thu nhập cho cá nhân... Trên cơ sở này, Cục Thuế chuyển giao dữ liệu chi trả thu nhập cho cá nhân về cơ quan thuế địa phương để đôn đốc quản lý theo quy định. Nhờ đó, số thu thuế từ cá nhân kinh doanh có hoạt động TMĐT qua kê khai, kê khai bổ sung điều chỉnh và qua truy thu, phạt trong năm 2021 của Cục Thuế TP HCM là trên 122 tỷ đồng. Riêng 6 tháng đầu năm 2022 là trên 140 tỷ đồng, tăng 14,75% so với năm 2022.
 

Cụ thể hóa công tác quản lý 

Theo Tổng cục Thuế, để quản lý hoạt động kinh doanh trên nền tảng số, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Các chính sách thuế hiện hành không phân biệt hoạt động kinh doanh theo phương thức truyền thống hay có yếu tố TMĐT, theo đó, công tác thu thuế đối với hoạt động kinh doanh TMĐT đang được thực hiện theo đúng quy định. Cụ thể, đối với DN có doanh thu từ 1 tỷ đồng/năm trở lên thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ, sẽ áp dụng thuế GTGT theo các mức thuế quy định với từng loại hàng hoá, dịch vụ; đồng thời áp dụng thuế TNDN 20% trên thu nhập chịu thuế. Đối với DN có doanh thu dưới 1 tỷ đồng/năm và lựa chọn nộp thuế theo phương pháp trực tiếp theo tỷ lệ % trên doanh thu, thì thuế GTGT, thuế TNDN tính theo tỷ lệ % tương ứng với từng hoạt động, ngành nghề. Riêng đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng áp dụng phương pháp tính thuế theo tỷ lệ % trên doanh thu, thì thuế GTGT, thuế TNCN tính theo tỷ lệ % tương ứng với từng hoạt động, ngành nghề. Các trường hợp có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống, thì không phải nộp thuế GTGT, thuế TNCN. Đối với nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở kinh doanh cố định tại Việt Nam, nhưng có phát sinh thu nhập tại Việt Nam áp dụng phương pháp tính thuế theo tỷ lệ % trên doanh thu, thì thuế GTGT, thuế TNDN tính theo tỷ lệ % tương ứng với từng hoạt động.

Trong công tác quản lý, phương thức kê khai, nộp thuế và quản lý thuế hoạt động kinh doanh TMĐT chia theo 3 nhóm, gồm tổ chức trong nước, cá nhân trong nước và nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở kinh doanh cố định tại Việt Nam. Theo đó, tổ chức trong nước có hoạt động kinh doanh TMĐT có trách nhiệm tự khai thuế, tự nộp thuế theo quy định; cơ quan thuế quản lý thuế và thanh, kiểm tra theo cơ chế rủi ro. Đối với hộ, cá nhân kinh doanh có hoạt động kinh doanh TMĐT, thì tổ chức quản lý theo địa bàn phường, xã. Hộ nộp thuế theo phương pháp kê khai thì có trách nhiệm tự khai, tự nộp. Ngoài ra, Thông tư số 100/2021/TT-BTC quy định, các sàn giao dịch TMĐT thực hiện khai thay, nộp thay cho cá nhân trên cơ sở ủy quyền theo pháp luật dân sự. Trường hợp không khai thay, nộp thay, cơ quan thuế sẽ phối hợp với sàn giao dịch TMĐT để chia sẻ và cung cấp thông tin của cá nhân kinh doanh theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế. Trên cơ sở đó, cơ quan thuế thực hiện rà soát và đưa vào diện quản lý, điều chỉnh doanh thu khoán hoặc xử lý truy thu. Đối với các cá nhân kinh doanh bán hàng qua mạng xã hội (Facebook, Youtube, Zalo...) thường có địa điểm kinh doanh cụ thể (kho hàng, địa điểm tập kết hàng hoá, nơi cư trú...), cơ quan thuế sẽ quản lý giống như có địa điểm kinh doanh cố định...

Liên quan đến cá nhân tại Việt Nam có cung cấp sản phẩm nội dung thông tin số (game, video, app, phần mềm, âm nhạc...) và nhận được thu nhập từ việc cho đặt quảng cáo trả từ nước ngoài, việc quản lý thu thuế cũng đã được cụ thể hóa. Theo đó, trường hợp thu nhập được trả cho cá nhân thông qua công ty đối tác của nhà cung cấp nước ngoài tại Việt Nam, thì công ty đối tác tại Việt Nam có trách nhiệm khai thay, nộp thay. Ngược lại, thu nhập được trả trực tiếp cho cá nhân, thì cá nhân tự khai, tự nộp. Cơ quan thuế thu thập thông tin từ ngân hàng và các nguồn thông tin khác làm cơ sở yêu cầu NNT kê khai, nộp thuế theo quy định.

Đối với nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở kinh doanh cố định tại Việt Nam có phát sinh thu nhập tại Việt Nam, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 đã quy định trách nhiệm cụ thể của cơ quan thuế cũng như nghĩa vụ của DN nước ngoài. Thông tư số 80/2021/TT-BTC cũng quy định trách nhiệm của các cá nhân, ngân hàng tại Việt Nam liên quan đến việc mua bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ của các nhà cung cấp nước ngoài. Đồng thời, Bộ Tài chính đã chính thức khai trương Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài để tạo thuận lợi cho nhóm đối tượng này thực hiện đăng ký, kê khai, nộp thuế tại bất kỳ đâu.

Như vậy, mặc dù là loại hình kinh doanh mới, nhưng ngay khi xuất hiện, Bộ Tài chính - Tổng cục Thuế đã kịp thời chủ động nghiên cứu, kiểm nghiệm từ thực tiễn và học hỏi kinh nghiệm của các nước để báo cáo cấp có thẩm quyền xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo quản lý hiệu quả.

Nguồn tin: thuenhanuoc.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập114
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm112
  • Hôm nay675
  • Tháng hiện tại4,425
  • Tổng lượt truy cập1,786,514
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây