Cần phân định, làm rõ khái niệm vốn nhà nước theo quy trình của dòng vốn

Thứ năm - 08/04/2021 09:24
Mặc dù Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại DN (Luật số 69/2014/Qh13) đã thực hiện được 5 năm, nhưng đến nay vẫn có sự “nhầm lẫn” trong cách hiểu về các khái niệm liên quan đến công tác quản lý vốn nhà nước đầu tư vào DN. Chính vì vậy, để hoàn thiện cơ sở lý luận, thực tiễn để đề xuất Chính phủ, Quốc hội các định hướng sửa đổi bổ sung Luật số 69/2014/Qh13 trong năm 2021, ngày 7/4, Bộ Tài chính phối hợp với Ngân hàng Thế giới tổ chức hội thảo “Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại DN: kết quả 5 năm triển khai và định hướng sửa đổi, bổ sung”.
Cần phân định, làm rõ khái niệm vốn nhà nước theo quy trình của dòng vốn
Cần phân định, làm rõ khái niệm vốn nhà nước theo quy trình của dòng vốn

“Lẫn lộn” khái niệm vốn nhà nước tại DN

Phát biểu tại hội thảo, ông Đặng Quyết Tiến, Cục trưởng Cục Tài chính DN (Bộ Tài chính) cho biết, sau 5 năm thực hiện, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại DN (Luật số 69/2014/QH13) đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước và DN, qua đó đảm bảo tôn trọng và nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của DN, cũng như tăng cường sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước. Tuy nhiên, quá trình thực hiện Luật số 69 2014 QH13 và các văn bản hướng dẫn đã bộc lộ một số tồn tại liên quan đến việc xác định vốn nhà nước đầu tư tại DN; thẩm quyền quyết định dự án đầu tư, xây dựng; mua bán tài sản cố định; thẩm quyền quyết định đầu tư vốn ra ngoài DN; quản lý, sử dụng tiền thu từ cổ phần hóa, thoái vốn; quyền hạn, trách nhiệm, phương thức quản lý người đại diện và nhóm người đại diện vốn nhà nước tại DN; quản lý của DNNN đối với công ty con do DNNN nắm giữ 100% vốn điều lệ…

Theo TS Nguyễn Đình Cung, sau 5 năm triển khai Luật 69, các khái niệm về vốn không còn phù hợp. Hiện nay có nhiều cách hiểu lẫn lộn và sai lệch về các loại vốn, tài sản, sở hữu tài sản thuộc sở hữu nhà nước và sở hữu DN. Quy định hiện hành tại Luật 69 làm lẫn lộn và không phân biệt được về mặt pháp lý tài sản của DN và tài sản của Nhà nước. Dẫn chứng cụ thể, TS Cung cho biết, theo quy định tại khoản 3 và 8 Điều 3 Luật 69, đầu tư vốn nhà nước vào DN là việc Nhà nước sử dụng vốn từ NSNN hoặc vốn từ các quỹ do Nhà nước quản lý để đầu tư vào DN; vốn nhà nước tại DN bao gồm vốn từ NSNN, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ NSNN, vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại DN, quỹ hỗ trợ sắp xếp DN, vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn khác được Nhà nước đầu tư tại DN…

Quy định là vậy, thế nhưng thực tế sau khi đầu tư vào DN, thì Nhà nước đổi lại là thành cổ đông, thành viên, và tài sản có được là số cổ phần, phần góp vốn tương ứng. Nhà nước khi ấy cũng giống như bất cứ nhà đầu tư nào đều có thể sử dụng mọi loại vốn để đầu tư. Khi đã đầu tư, lấy sở hữu cổ phần và phần góp vốn, thì sau đó tất cả là của DN.

Thêm một ví dụ khác theo ông Cung, Luật 69 quy định vốn của DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ bao gồm vốn chủ sở hữu của DN và vốn do DN huy động. Tuy nhiên, phải hiểu rằng, trong DN thì chỉ có vốn DN mà không có vốn nhà nước tại DN. Mặt khác, các nguyên tắc đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DN theo quy định của Điều 5 Luật số 69 vừa không chính xác, vừa không phải là “nguyên tắc”. Việc quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DN phải tuân thủ tất cả các quy định pháp luật có liên quan chứ không chỉ pháp luật về đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước. “Chính vì vậy cần phải loại bỏ các khái niệm kiểu này, chúng là di sản của kinh tế kế hoạch hóa tập trung”, ông Cung nhấn mạnh.

Chủ sở hữu phần vốn góp của Nhà nước có quyền và nghĩa vụ như một cổ đông


Trước những bất cập này, tại hội thảo các ý kiến đều nhất trí cho rằng, việc sửa đổi bổ sung Luật 69 là cần thiết, trong đó cần phải làm rõ khái niệm vốn nhà nước theo quy trình của dòng vốn. Theo đó, sau khi đầu tư vào DN, vốn nhà nước trở thành vốn của DN, do DN quản lý, sử dụng và định đoạt. Nhà nước khi ấy trở thành chủ sở hữu của phần vốn góp, cổ phần tương ứng tại DN. Mặt khác, cần làm rõ vai trò của các cơ quan đại diện chủ sở hữu.

Cụ thể, sau khi đầu tư, các cơ quan đại diện chủ sở hữu là chủ sở hữu phần vốn góp, cổ phần tại DN và có quyền, nghĩa vụ tương tự như các nhà đầu tư, cổ đông của DN. Các cơ quan đại diện chủ sở hữu không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, mọi hoạt động của DN sẽ do ban điều hành thực hiện. Điều này sẽ tác bạch chức năng quản lý của chủ sở hữu nhà nước với quản lý điều hành của DN. Không chỉ vậy, việc đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư vốn nhà nước phải thực hiện theo các nguyên tắc của thị trường. Việc đánh giá phải dựa trên giá trị gia tang của vốn đầu tư và cổ tức, lợi nhuận được chia hàng năm. Đồng thời, cần phải đẩy mạnh đổi mới, quản trị tại DNNN theo hướng tang cường công khai, minh bạch và tăng trách nhiệm giải trình của người đứng đầu; áp dụng quản trị hiện đại theo thông lệ quốc tế…

Theo TS Phan Đằng Chương, Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH E&Y Việt Nam, có 5 vấn đề chính cần tháo gỡ, đó là, khái niệm vốn Nhà nước và nhà nước với vai trò chủ sở hữu; các vấn đề ảnh hưởng tới tính cạnh tranh của DN; vấn đề cơ cấu vốn nhà nước; đánh giá hiệu quả hoạt động của DN; công khai và minh bạch thông tin. Do đang tồn tại các cách hiểu khác nhau về vốn đầu tư vào DN và vốn của DN, trong khi Luật 69 chưa tương thích với các luật hiện hành, nhiều đầu mối giám sát dẫn tới sự chồng chéo, trùng lắp cho DN

Chính vì vậy, để đảm bảo không trùng lắp, mâu thuẫn với các quy định hiện hành, mục tiêu của Luật 69 chỉ nên tập trung vào quản lý vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại DN, đồng thời chỉ quy định những nguyên tắc chung của cơ cấu vốn nhà nước nhằm đảm bảo bao trùm mọi trường hợp về chuyển giao tài sản, chuyển đổi sở hữu

Từ các đánh giá đó, TS Lê Đăng Doanh cho rằng, cần phải sớm sửa đổi, bổ sung Luật 69, trong đó xác định rõ pham vi nhà nước đầu tư, lĩnh vực cổ phần hóa. Muốn vậy thì cổ phần hóa DNNN phải thực chất, có cổ đông chiến lược tham gia hội đồng quản trị, khắc phục cổ phần hóa hình thức với tỷ lệ thấp, quản lý “”vũ như cẩn”, ít nâng cao chất lượng quản trị DN. Trong đó đặc biệt chú trọng giải quyết vướng mắc về đất đai trong cổ phần hóa.

Nguồn tin: thuenhanuoc.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá yếu tố nào quan trọng nhất trong quá trình học tập?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập8
  • Hôm nay277
  • Tháng hiện tại10,156
  • Tổng lượt truy cập788,837
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây